Friday, December 9, 2016

Cửu Long có phải là 9 Rồng?



"BÁO VĂN HÓA-CALIFORNIA" THỨ  TƯ 02 MAR  2016


Sông Cửu Long ( người Âu Mỹ gọi là Mê Kông ) là một trong những con sông lớn nhất trên thế giới. Xuất phát từ vùng núi cao tỉnh Thanh Hải ( Trung Quốc), băng qua Tây Tạng theo suốt chiều dài tỉnh Vân Nam, qua các nước Myanma,Thái Lan, Lào, Campuchia trước khi đổ vào miền Nam Việt Nam.

Người Tây Tạng cho rằng,
thượng nguồn sông Mê Kông chia ra hai nhánh: nhánh Tây Bắc (Dzanak chu) và nhánh Bắc (Dzakar chu).
- Nhánh Tây Bắc được biết đến nhiều hơn, vị trí gần đèo Lungmug với chiều dài 87,75 km.
- Nhánh Bắc chảy xuống từ rặng núi Guosongmucha. Nhánh này, từ độ cao 5224 m , gồm hai nhánh phụ có chiều dài 91,12 km và 89,76 km. Đầu nguồn của dòng sông đến nay đã được xác định rõ qua những cuộc thám hiểm gần đây.
 
Gần một nửa chiều dài con sông này chảy trên lãnh thổ Trung Quốc
, đoạn đầu nguồn tiếng Tây Tạng gọi là Dza Chu tức Trát Khúc. Trát Khúc hợp lưu với một nhánh khác tên là Ngang Khúc; ở gần Xương Đô, tạo ra Lan Thương Giang ( có nghĩa là “con sông lượn sóng” ).
Phần lớn đoạn sông này có các hẻm núi sâu, và con sông này rời Trung Quốc khi độ cao chỉ còn khoảng 500 m so với mực nước biển. Người Lào và người Thái Lan gọi là Mekong hay Mékăng, Méganga có nghĩa là Sông Mẹ hay Sông Lớn. Tên gọi này có từ khoảng thế kỷ thứ 11, lúc tộc người Thái Lan tiến về phía Nam lập quốc trên vùng bán đảo Đông Dương.

Tương tự tại Campuchia, sông có tên gọi là Mékôngk hay Tông-lê Thơm (sông lớn).

Bắt đầu từ Phnom Penh
, sông chia thành 2 nhánh: bên phải là sông Bassac (sang Việt Nam gọi là Hậu Giang ) và bên trái là Mê Kông (sang Việt Nam gọi là Tiền Giang ).
Cả hai đều chảy vào khu vực đồng bằng châu thổ rộng lớn ở Nam Bộ Việt Nam, dài chừng 220-250 km mỗi sông trước khi đổ ra biển theo nhiều cửa:
Sông Tiền
có lòng sông rộng với nhiều cù lao ở giữa dòng, chảy qua Tân Châu (An Giang), Hồng Ngự và Cao Lãnh (Đồng Tháp) đến Cai Lậy (Tiền Giang) thì chia làm bốn sông đổ ra biển bằng sáu cửa:
- Sông Mỹ Tho, chảy qua tỉnh lỵ tỉnh Tiền Giang là thành phố Mỹ Tho và phía nam Gò Công, ra biển bằng cửa Đại và cửa Tiểu qua đường sông Cửa Tiểu.

- Sông Hàm Luông, chảy qua phía nam tỉnh Bến Tre, ra cửa Hàm Luông.

- Sông Cổ Chiên, làm thành ranh giới tỉnh Bến Tre-Trà Vinh (tên cũ Vĩnh Bình), đổ ra biển bằng cửa Cổ Chiên và cửa Cung Hầu ( còn gọi cửa Cồn Ngao).

- Sông Ba Lai chảy qua phía bắc tỉnh Bến Tre (tên cũ Kiến Hòa), ra cửa Ba Lai.
Hiện nay, cửa Ba Lai đã bị hệ thống cống đập Ba Lai ngăn lại. Hệ thống này nằm trong dự án ngọt hóa vùng ven biển của tỉnh Bến Tre.

- Sông Hậu chảy qua Châu Đốc, Long Xuyên (An Giang), Thành phố Cần Thơ, Sóc Trăng và đổ ra biển bằng ba cửa: cửa Định An, cửa Ba Thắc, cửa Tranh Đề ( hay Trấn Di) .
Cửa Ba Thắc khoảng thập niên 1970 đã bị bồi lấp nên sông Hậu chỉ còn hai cửa biển ngày nay.
Ngoài chín cửa nói trên, còn các cửa khác như cửa Bãi Ngao ở phía nam tỉnh Vĩnh Long. Nhà thơ Thượng Tân Thị sáng tác bài thơ có câu:

Đứng ngó quanh về phía Bãi Ngao,
Một trời, một biển, một cù lao...

Về phía Tây Nam lối 100 dặm có cửa Gành Hào là một nơi có nhiều thổ sản như mật ong, sáp trắng...và thủy sản cá cua rất dồi dào.
- Ở Cà Mau còn có Cửa Lớn, một con sông bắt nguồn ở Đầm Dơi chảy ngang Năm Căn rồi đổ ra biển ở vàm Cửa Lớn.
- Ngoài ra còn cửa Bồ Đề chảy ra biển Đông và cửa Ông Đốc chảy ra Vịnh Thái Lan.
Vòng lên phía Bắc vịnh Thái Lan còn có cửa quan trọng khác là cửa Rạch Giá.

Về tên gọi sông Cửu Long, ( hay đồng bằng sông Cửu Long ) trước đây đã có nhiều ý kiến, ngoài nghĩa thông thường ai cũng biết là do các nhánh sông tại Nam bộ chảy ra biển Đông bằng 9 cửa, nên được gọi là Cửu Long ( chín con rồng). Tuy nhiên có người lại cho rằng Cửu Long là tiếng phiên âm từ tiếng Mekongk của Khmer hoặc Mékăng theo tiếng Thái.

Gần đây, nhà nghiên cứu Tạ Chí Đại Trường trong một tài liệu nghiên cứu, ( Sử Việt đọc vài quyển ) ông cho rằng Cửu Long là phiên âm từ tiếng Klong của Malaisia, (cũng theo ông, nếu cố mà đếm cho đủ các nhánh sông thì cũng chỉ có 8 cửa!)

Như chúng ta đều biết, người Việt tiếp cận con sông này từ khoảng đầu thế kỷ 17 khi những lưu dân theo chúa Nguyễn vào Nam lập ấp xây làng. Từ đó tên gọi con sông này đã được ghi vào sử sách như sau :

- Sách Đại Nam thực lục ghi là sông Khung:

“ Tháng 11, viên quan coi việc làm tập biên cương giới là Hoàng Hữu Xứng nghĩ dâng sách ấy phàm lệ có 12 điều.

Về nguyên được chuẩn cho kiểm xét cương giới nước ta tiếp giáp với nước Thanh, nước Xiêm, nước Diến và sông Khung Giang đích là chỗ nào, biên tập thành sách. Nay kính xét miền thượng du nước ta lấy sông Khung làm giới hạn, thì từ Nghệ An trở vào Nam, có giáp sông ấy, còn từ Nghệ An trở về Bắc, thì giáp giới với sông ấy, không liên can với nhau. Sách này xin chuyển lấy cương giới tiếp giáp các nước làm chủ, sông Khung cũng xét cả một thể, tùy theo nđịa phương nào, thông với sông ấy, biên thêm vào, đề phòng xem xét, nhưng đặt tên sách là Đại nam cương giới vựng biên, không phải cùng biên cả chữ “ Khung Giang”…) ( ĐNTL, sđd, tr 290).

Theo tác giả Nguyễn Văn Âu
trong Địa danh Việt Nam thì Khung là tiếng chỉ con sông của đồng bào dân tộc Thái ở tại vùng Tây Bắc Việt Nam ( sđd, tr 40)

-Sách “ Sử lục bị khảo
“ do Đặng Xuân Bảng soạn năm 1876 thì ghi là sông Lan Thương :

“ Miền Tây Nam kỳ thì có sông Tiền Giang và sông Hậu Giang là lớn nhất, tức là hạ lưu của sông Lan Thương bắt nguồn từ Thanh Hải ( Trung Hoa)…( Sử Học bị khảo, sđd, tr 138 ).

- Trương Vĩnh Ký khi viết Petit cours de geographie de la Basse –Cochichine xuất bản năm 1875 ghi là Mé-cong:

“ Les fleuves Anterieur et Posterieur sont formes du grand fleuve Mé- cong…”( Petit cours…; sđd, tr 18)

- Khi soạn Gia Định Thành Thông Chí, cụ Trịnh Hoài Đức chính thức ghi tên sông là sông Cửu Long:

“ Mỹ Tho giang-( Sông lớn): Ở trước trấn, làm sông cái của trấn. Phát nguồn từ sông Cửu Long tỉnh Vân Nam ( Trung Quốc ), chảy nhanh cuồn cuộn từ phía bắc qua phía tây… ( GGĐTTC, sđd, tr 42)

- Sau này, tên gọi Cửu Long mới được các sử gia triều Nguyễn ghi trong Đại Nam Nhất Thống Chí:

“ Miền tây Nam kỳ thì có sông Tiền Giang và sông Hậu Giang là lớn nhất, tức là hạ lưu của sông Lan Thương bắt nguồn từ Thanh Hải ( Trung Quốc) qua phủ Lệ Giang tỉnh Vân Nam, qua các phủ Đại Lí, Thuận Ninh, đến phủ Phổ Nhĩ, có sông Phổ Nhĩ đến từ phía đông chảy vào làm sông Cửu Long…” ( ĐNNTC, T5, tr 273)

Căn cứ vào những ghi chép đó, ta có thể suy luận rằng, phải chăng tên gọi Mê Kông đã được cư dân người Việt, những người đầu tiên đến khai hoang lập ấp tại vùng đất mới dưới thời các chúa Nguyễn “Việt hóa ” thành Cửu Long để truyền ngôn ? Rồi từ đó, cụ Trịnh Hoài Đức (1765-1825) mới chép vào cuốn địa chí đầu tiên của vùng đất Nam bộ ?

Có thể lý giải rằng, cách gọi này, một phần dựa vào cách phát âm của cư dân láng giềng, những người đã cùng họ “đồng lao cộng khổ” trên vùng đất mới hoang vu, đầy khó khăn thuở ban đầu. Nơi đó, trên rừng là cọp, dưới nước là sấu luôn chực chờ với bao nỗi hiểm nguy.

Gọi tên một con sông dài bao trùm cả một vùng đồng bằng rộng lớn, bằng một âm gần gũi cũng là một cách để dễ dàng giao tiếp, tạo sự đoàn kết thân hữu, tương trợ nhau. Mặt khác, điều này có lẽ quan trọng hơn, trong tâm thức của người Việt đến từ các vùng phía Bắc di dân vào Nam, họ quan niệm rằng, một con sông lớn, một ngọn núi cao luôn gắn liền với hình ảnh của những vị thần, mà biểu tượng con Rồng ( Long ) là linh vật tiêu biểu, là vật chủ của nguồn nước... Lại thêm nữa, sông đổ ra biển theo nhiều nhánh, thuở đó không ai đếm được bao nhiêu, nên cứ gọi là chín ( Cửu), đó là con số tròn đầy, viên mãn , rồi dần dần tên gọi đó được được ghi vào sách vở và truyền lại đến ngày nay…

Và nếu quả thật là như thế, thì cái tên Cửu Long do người Việt vận dụng đặt ra quả là một từ đầy tư duy và “sáng tạo” !

Sông Cửu Long: "Trường Giang Vạn Dặm"
Hứa Hoành
Sông Cửu Long 9 cửa, 2 dòng,
Người thương anh vô số, nhưng chỉ một lòng với em.
(Ca Dao)




Nhiều du khách mới đến Việt Nam, đứng trên lầu khách sạn Caravelle hay Majestic, nhìn ra bến Bạch Đằng, thấy tàu bè san sát, tưởng rằng đó là sông Mê Kông.
Thực ra, sông Mê Kông không có một chi lưu nào chảy ngang qua thủ đô Sài Gòn cả. Trước bến Bạch Đằng là sông Sài Gòn, một phụ lưu của sông Đồng Nai.
Đứng hàng thứ 7 trên thế giới về chiều dài và sức mạnh phi thường, sông Cửu Long là một loại "trường giang vạn dặm" của nước ta.

Phát nguyên từ vùng cao nguyên quanh năm giá buốt Hi Mã Lạp Sơn, nguồn sông Cửu Long chảy xiết qua các ghềnh đá, các hẻm vực cheo leo của châu Đại Lý bên Vân Nam Trung Quốc, rồi qua nội địa nước lào, ngoằn ngoèo như con rắn vĩ đại dài khoảng 1200 dặm. Tới đây dòng sông Cửu Long trở thành sông mẹ chung cho bốn nước: Lào, Thái, Cam-pu-chia và Việt Nam, mỗi nơi có khoác một tên bản xứ khác nhau.
Tại Lào gọi là sông Nâm Khoong. Đến Thái Lan được gọi là Mae Khong. Từ đó, người Pháp phiên âm lại là Mékong (Mê Kông).
Vào lãnh thổ Cam-pu-chia gần thác Khône vĩ đại, sông Mê Kông chảy vào nội địa xứ chùa Tháp, rồi chia làm hai nhánh:
- Sông Tonlé Sap đổ vào Biển Hồ, có công dụng như một hồ chứa nước nhân tạo, để điều hòa mực nước giữa hai mùa mưa nắng.
- Một nhánh ngoặc về phía Đông, chảy vào Nam Việt trước khi ra bể cả. Đây cũng là con đường lưu thông huyết mạch của nước Cam-pu-chia trước khi có hải cảng Kom-pong-som (Sihanouk Ville).

Cửu Long Giang: Rồng vàng chín khúc của miền Nam Việt Nam
Từ trên cao nhìn xuống, sông Cửu Long long lanh như một dải lụa, quanh co uốn khúc chảy ra bể Đông. Rời lãnh thổ Cam-pu-chia, sông Cửu Long chia ra làm hai nhánh xâm nhập nội địa nước ta:
- Nhánh Tiền Giang:
Là một loại sông ngòi cổ, lòng sông cạn, nhiều cát, khúc khuỷu với các cù lao trù phú, chảy qua các thị trấn Tân Châu, Hồng Ngư, ngã ba Chợ Vàm, Sa Đéc, Vĩnh Long, Mỹ Tho, Bến Tre, rồi đổ vào biển Đông bằng 6 cửa:
1. Cửa Tiểu, hay Vàm Láng, làng Thới Thuận, Gò Công.
2.  Cửa Đại, thuộc quận Bình Đại Bến Tre, với quận lỵ án ngữ bên hữu ngạn.
3. Cửa Ba Lai, một thoát lưu nhỏ chảy qua cầu Chẹt Sậy, Bến Tre.
4. Cửa Hàm Luông, còn gọi là Giồng Luông, hay Hàm Long, rất rộng. Khi thủy triều lên, đứng bên bờ bên này không nhìn thấy bên kia, vì nó nhận nước từ các chi lưu Chợ Lách, Cái Mơn, Hàm Lòng đổ qua.
5. Cửa Cổ Chiên, do sông Cổ Chiên cháy từ tỉnh lỵ Vĩnh Long, qua cù lao Quới Thiện, Rạch Bàng, Trà Vinh... đổ ra bể. Hai bên bờ và trên những cù lao có vô số những cây bần, sách xưa gọi là cây thủy liễu.
6. Cửa Cung Hậu.
- Nhánh Hậu Giang 3 cửa:
Người Pháp gọi là sông Bassac, thuộc loại sông trẻ, dòng sông thằng, ít phù sa, nước chảy xiết, đổ ngang qua Châu Đốc, Long Xuyên, Thốt Nốt, Ô Môn, Cần Thơ, rồi chảy ra Đại Ngải, cù lao Dung, rẽ dòng làm hai nhánh thoát ra biển: cửa Định An và cửa Bassac. Nơi đây dòng sông sâu rộng, tàu bè ra vào dễ dàng thủ phủ miền Tây (Cần Thơ).
Cuối cùng, có một thoát lưu rất nhỏ, bề ngang hơn 100m, chảy qua Cổ Cò, đổ ra cửa Mỹ Thanh (hay cửa Tranh Đề).
Theo nhà kinh tế hậu chiến Lilienthal Hoa Kỳ thì sông Mê Kông "đổ ra một lưu lượng gấp 6 lần sông Nile, có thể sản xuất một số điện lực khổng lồ, giá rẻ để làm phát triển kỹ nghệ mới như luyện nhôm, các quặng mỏ, và sau cùng có thể mang ánh sáng đến các nơi xa xôi tận Mã Lai Á và Singapore.
Thật ra, sông Cửu Long chỉ có 8 cửa mà thôi, cửa Tranh Đề chỉ là một thoát lưu phụ, không đáng kể.
Một ký giả Mỹ viết trong tạp chí National Geographic: "Lúc ở VN, ông đã dùng trực thăng bay qua bay lại cửa sông Cửu Long nhiều lần, để kiểm chứng lại sông này có 9 cửa, nhưng không lần nào ông đếm được 9 cửa như sách địa lý đã nói. Ông chỉ tìm ra được 8 cửa mà thôi" (Không có cửa Tranh Đề). 
Theo cụ Nguyễn Văn Vực năm nay 62 tuổi, nguyên là Chánh Sự Vụ Sở Thông Tin Đô Thành dưới thời cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đã cho biết rằng: "Chính ông Trịnh Hoài Đức đã đặt tên sông này là sông Cửu Long trong Gia Định Thành Thông Chí, có nghĩa là 9 con rồng. Con số 9 là một tín ngưỡng đặc biệt của dân miền Nam, cũng như con số 7. (Người ta thường nới núi Thất Sơn, nhưng thật ra có hơn 7 ngọn núi). Ý nghĩa số 9 biểu trưng cho số cực đại của hào dương trong dịch lý. So 9 chỉ hào dương lên tột đinh, tượng trưng sự thịnh vượng.

Cũng như sông Danube bên Âu Châu, Cửu Long là một con sông quốc tế, bị chi phối bởi quyền lợi của những quốc gia mà nó chảy qua. Chẳng hạn như ở miền hạ lưu (Nam VN), muốn bắc một cây cầu qua bến phà Mỹ Thuận, hay Cần Thơ, cần có sự đồng ý của Cam-pu-chia, vì nếu cầu này xây thấp quá sẽ làm cản trở tàu bè của họ lưu thông. Đối với bốn quốc gia nằm trong lưu vực sông Cửu Long, thừa hưởng được nguồn tài nguyên vô tận: nước tưới. Lưu vực sông Cửu Long rộng độ 236,000 dặm vuông, một vựa lúa thơm ngon, nước trong, gạo trắng, đã nuôi sống hơn 40 triệu dân của bốn nước Thái, Lào, Cam-pu-chia, Việt Nam. Ngoài tư cách một phúc thần mang lại sự thịnh vượng chung cho bốn xứ, sông Cửu Long có những lúc thịnh nộ giữa những cơn nước lũ tháng 10, cuồn cuộn nước phù sa. Đến mùa nắng, dòng sông hẹp lại, nước chảy hòa hoãn lờ đờ, nhất là khoảng từ Paksé trở lên Mường Luồng (thủ đô Luang Prabang):
"Nhờ nước chảy êm, nên con tàu kéo theo mấy chiếc thuyền chở cả mấy chục chiếc xe hơi mà đi khá nhẹ nhàng. Ngồi trên tàu, nhìn ra hai bên bờ, cây cối xanh tươi bên này là nước Lào, bên kia là Thái Lan, lâu lâu có một vài người làm ruộng gần bờ sông, ở quãng trống không có rừng..."
(Bài Đem Xuống Tuyền Đài của Minh Lãng)

Từ tháng 9 đến tháng 10, khi mùa mưa đến, dòng sông mở rộng ra, có nơi đến 10 km, nước sông dâng lên ngập các khu rừng già ở Miên, Lào, liếm các cột nhà sàn. Điều này cũng giải thích tại sao dân chúng Long Xuyên, Châu Đốc thích ở nhà sàn. Đến tháng 11, khi mùa mưa dứt, sông Cửu Long lại hồi sinh. Ngay trước khi nước rút, dân chúng ở hai bên bờ sông dẫn nước tưới vào ruộng, để nuôi sống cây mạ non mềm mại, và họ cầu mong cho nước ấy đừng bốc hơi trước khi hoa màu chín.

Mùa hè ở Cam-pu-chia nắng chang chang như thiêu đốt, dòng sông trở nên hẹp, để lộ ra nhiều bãi cát. Nước sông Cửu Long uể oải chậm chạp qua những dòng sông uốn khúc lồi lõm. Cùng với phụ lưu của nó, sông Tonlé Sap đã mất đi sức mạnh, không còn cuồn cuộn mang phù sa ra bể như trước nữa. Đến dây, sông Cửu Long đã có thủy triều chảy ra chảy vào. Đối với miền Nam, sông Cửu Long mang đến nhiều lợi ích phi thường. Nó đem phú túc thịnh vượng cho những miền nằm trong lưu vực hai con sông Tiền và Hậu. Sông Cửu Long mang đến phù sa, nước ngọt, tưới ruộng vườn cho cây trái sanh sôi nay nở, cho mạ non xanh tốt, cho lúa sai oằn. Một nguồn lợi khác rất đáng kể đó là cá tôm phong phú, đặc biệt vùng Châu Đốc, Tân Châu, Hồng Ngư... hứng trọn nước Biển Hồ đổ xuống. Dòng sông đã mang lại ấm no, đời sống lạc quan cho thôn xóm ven bờ như Cao Lãnh, Nha Mân, Cái Mơn, Cái Bè:
Gà nào hay cho bằng gà Cao Lãnh.
Gái nào bảnh bàng gái Tân Châu
Anh thương em chẳng nệ sang nghèo...
(Ca dao)

Có sống về nông nghiệp mới biết sự quý báu và cần thiết của nước tưới, mà sông Cửu Long đã mang lại cho dân chúng miền Nam một nguồn lợi thiên nhiên vô tận. Giới nông dân có câu: “Nhất nước nhì phân tam cần tứ giống”. Lúc ở Philippines, tôi có dịp đi chung xe với một bà y tá người Phi tên Laniel, đã từng qua VN, sống ở Mỹ Tho, Tây Ninh... Bà kể rằng: "Đất nước anh may mắn hơn đất nước chúng tôi (dĩ nhiên nếu không có CS) vì ở đây chúng tôi thiếu nước, cho nên trái xoài trái dừa ở Phi ăn không ngon bàng xoài cát và dừa xiêm ở Mỹ Tho. Cũng như trái sầu riêng, trái bon bon, trái chôm chôm, là những trái cây rất quý, rất đặc biệt. Tôi đã từng ở Pénang, Singapore, đã từng thưởng thức những món ấy, nhưng trái cây ở miền Nam (VN) rất độc đáo”.

Điều đó rất đúng. Các loại chôm chôm Java, bòn bon, sầu riêng là những trái cây miền nhiệt đới, gốc từ Nam Dương, Mã Lai, Singapore du nhập vào Việt Nam. Theo nhiều bậc kỳ lão ở Chợ Lách, Cái Mơn, Cái Nhum kể lại rằng các loại trái cây vừa nêu trên do chính nhà bác học Trương Vĩnh Ký, quê ở xã Vĩnh Thành Cái Mơn đem về, nhân các chuyến đi lại giữa Nam Kỳ và Pénang của các cố dạo. Hồi còn nhỏ, tôi được nghe thân phụ kể lại rằng trái sầu riêng trong vườn chúng tôi, gây giống từ loại sầu riêng đặc biệt của Singapore, nên khi chín rụng xuống, thì lắc nó kêu “xục xạc” nên còn gọi là sầu riêng “xục xạc Singapore”.

Sở dĩ trái cây miền Nam ngon ngọt, hương vị độc đáo khó quên là nhờ phù sa nước tưới của sông Cửu Long, mà những nơi khác không có được trừ Thái Lan, chung dòng sông mẹ. Đồng bằng sông Cửu Long là một khu vực đa diện, đặc biệt nổi tiếng với trái cây nhiệt đới, như chôm chôm tróc java, Cái Mơn, cam quýt, sầu riêng Cái Bè, Sa Đéc Nha Mân, Phong Điền, vú sữa Vĩnh Kim (Sầm Giang). Vùng Mỹ Tho, Sa Đéc, Cao Lãnh, Vĩnh Long, Cần Thơ... là địa đàng của miền Nam, nhờ phù sa màu mỡ của sông Cửu Long bồi đắp hàng năm. Không giong như những sông khác, sông Cửu Long không cần phải đắp đê ở hai bên bờ. Mỗi năm đến mùa nước nổi tháng 10 âm lịch, phù sa tràn vào ruộng. Lúc nước rút đi để lại một lớp bùn non, là phân bón cho ruộng vườn, cây trái, tạo ra một khu vực trù phú độc đáo ở hạ lưu sông Cửu Long. Nơi đây dân chúng sống thong dong, nhàn hạ, nếu có một mẫu vườn, vài công ruộng.

Phong cảnh ở miền đồng bằng sông Cửu Long cũng rất êm đềm thơ mộng, đã làm say mê, quyến rũ các du khách từ nơi xa đến... Ngược dòng Tiền Giang, qua Mỹ Tho, Sa Đéc, Cao Lãnh, Tân Châu, Hồng Ngự... hai bên bờ cây cối ruộng vườn xanh mướt quanh năm. Mùa nào cũng có trái cây chín. Nếu nhàn nhã, mời bạn làm một cuộc du lịch bằng ghe, lênh đênh trên sông nước để quan sát cảnh vật và đời sống của người dân quê. Từ miền cửa Đại, với vườn dừa bát ngát nằm bên những cồn phù sa như Cồn Cống, Cồn Bà, Cồn Ong, Cồn Cô, Cồn Cậu chảy dọc theo dòng sông cho đến Mỹ Tho. Hai bên bờ cây cối sai oằn, nặng trĩu những dừa, những chuối, những cam quýt, bưởi, mận, xoài, Cù Lao Rồng, còn gọi là Cồn Rồng, nằm đối diện với chợ cũ Mỹ Tho, trước kia làm nơi sống riêng cho người cùi, và cũng là nơi Thủ Khoa Huân bị hành quyết cuối thế kỷ 19. Cồn Phụng, nằm án ngữ trước phà Rạch Miễu đi Tân Thạch, thánh địa của Ông Đạo Dừa, với nhiều kiến trúc độc đáo. Lên phía trên, ta qua cù lao Tân Phong nổi tiếng với ốc gạo ngon đặc biệt. Sau đây là đoạn tả cảnh du lịch trên sông Cửu Long của Phạm Quỳnh mấy mươi năm trước:

“Nhưng thật ra đi trên sông Mê Kông mà không ngờ là sông Mê Kông, lắm khi tưởng ở trong cái kênh, cái lạch nào, không mấy lúc có cảm giác ở giữa chốn tràng giang. Vì trong khoảng từ Mỹ Tho lên Châu Đốc, trong sông đầy những cù lao cùng bãi cát, nhiều nơi to rộng lắm, từng làng từng tổng ở vừa, đầy những cây cỏ um tùm, chật mát cả lòng sông, cho nên coi hẹp đi”.

Theo nhánh sông Cổ Chiên từ Vĩnh Long lên, thì mỗi cù lao, mỗi cồn là những vườn cây ăn trái sum suê, dân cư trù phú, tám tiết có cây thạnh mậu. Nào cù lao Quới Thiện (còn gọi là cù lao Dài, hay cù lao Năm Thôn), cồn Phú Đa, cù lao An Thành, cồn Chọi (Sa Đéc) đâu đâu cũng nhà cửa, ruộng vườn san sát, nhà sàn, nhà gạch mái ngói ẩn hiện trong các vườn cây xanh tươi. Cồn thì nhỏ hơn cù lao, là một loại đất bồi mới nổi lên khỏi mặt nước, do phù sa tạo lập nên, do đó trồng trọt rất tốt. Nơi đây người ta làm "bờ bao" để trồng chôm chôm, xoài cát.

Danh từ bờ bao mới xuất hiện độ hơn 10 năm nay, do sáng kiến của nhà vườn miền Nam. Vì là đất tân bồi còn thấp ngang mặt nước, hay có nơi thấp hơn mặt nước, khi nước rộng cao tháng 10, nên người ta phải đắp bờ bao xung quanh, chớ không đợi cho phù sa bồi đắp cao lên, phải mất vài chục năm nữa, cho đến cả thế kỷ. Đấy là một sáng kiến độc đáo, mang lại lợi tức sớm cho nhà vườn. Chôm chôm bờ bao ở Tân Phong rất nổi tiếng, bán được giá ở thị trường. Còn xoài cát sầu riêng bờ bao đặc sắc, đã mang lại một nguồn lợi lớn, làm giàu cho chủ vườn sau một thời gian ngắn. Họ trồng xoài tháp, mận chiết, độ ba năm thu huê lợi, trong khi đó xen kẽ các loại cây mắc tiền hơn như cam quýt. Ngày nay, dân "bờ bao" đi ghe gắn máy dầu, ở nhà gạch, có đời sống vật chất phong phú. Nhà nào cũng có TV, Radio Cassette để nghe hát cải lương. Một nguồn lợi đặc biệt khác là các vườn dừa ở Bến Tre. Việt Nam có những vườn dừa khá lớn như ở Hiệp Mỹ (Phan Rang), Tam Quan, Bồng Sơn, nhưng so với Bến Tre nào có thấm gì.

Ở đây dừa được trồng ngay ngắn trên liếp, dưới là mương nước ăn thông với mương cái, chảy ra sông, rạch. Kinh nghiệm chủ vườn cho biết dừa khô chỉ rụng về đêm khi nhiệt độ xuống thấp do đó giảm mức nguy hiểm cho người làm vườn. Đến kỳ thu hoạch, người ta dùng cù móc, hoặc cho người leo lên giựt từng quày dừa cho rụng xuống mương. Xuống nước, dừa khô nổi, do đó, dễ gom lại một chỗ lột vỏ rồi bán. Cái dừa dùng làm xà bông, mỹ phẩm, dầu ăn và làm bánh, là một nguồn ngoại tệ rất lớn.

* NHIỀU DỰ ÁN QUỐC TẾ BIẾN LƯU VỰC SÔNG CỬU LONG THÀNH TRÙ PHÚ
Dưới sự bảo trợ của LHQ, nhiều dự án xây dựng đập nước để dẫn thủy nhập điền, làm nhà máy thủy điện và thuần hóa dòng sông mãnh liệt này rất tốn kém. Nó là một dự án quốc tế, mang đến lợi ích đa diện cho nhiều quốc gia nó chảy qua. Để xây dựng từng giai đoạn, người ta phải mất từ 30 đến 50 năm, có khi cả trăm năm, và phải chi tiêu khoảng 12 tỉ đô la, để biến 1200 dặm vuông lưu vực sông Cửu Long (phía Lào và Thái) trở thành một dòng sông trật tự, thúc đẩy khu vực nghèo đói và chậm tiến này đi đến một giai đoạn ổn định kinh tế và phát triển.

Theo lời của cựu Tổng Thư Ký LHQ tuyên bố: "Dự án sông Cửu Long chắc chắn sẽ là một trong những thành quả lớn lao nhất của LHQ. Trụ sở Ủy ban sông Cửu Long đặt ở Bangkok đã đưa ra lời kêu gọi trợ giúp cho bốn nước được hưởng quyền lợi dự án này. Người Úc đã san phẳng địa điểm để làm đập trên một phụ lưu của sông Cửu Long. Tân Tây Lan tặng các thuyền máy đẽ cho các chuyên viên đi lại trên những vị trí xa xôi của chương trình. Ba Tư cung cấp đầu. Do Thái trang bị kiến thức cho các nông trại ở Lào, và giúp các nông dân biết cách dẫn thủy nhập điền vào đất ruộng khô cằn của họ.

Tinh thần của sông Cửu Long rất hay lây. Thái Lan cung cấp xi măng cũng như điện lực xây dựng đập Nậm Ngụm trên căn bản hứa hẹn sau khi hoàn thành, Lào sẽ bồi hoàn bằng số Kwatt /giờ cho Thái. Tương tự Cam-pu-chia cũng ủng hộ cho việc bắc cầu qua sông Cửu Long, không phải cho nước họ mà cho miền Nam Việt Nam.
Ngay cả cộng sản cũng thấy lợi ích của việc này. Hà Nội đã thấy được điện lực hữu ích cho kỹ nghệ, và đã mách nước tại hội nghị Ba Lê sẵn sàng tham dự”.

Posted by DAT NGUYEN at 5:03 PM
 Thất Long hay Cửu Long
12/07/2010



Báo Thanh Niên (9/7/2010) có bài viết: Sông Cửu Long chỉ còn “Thất Long”? được nhiều độc giả quan tâm. Để rộng đường dư luận, phóng viên báo Thanh Niên phỏng vấn tiến sĩ Tô Văn Trường chuyên gia tài nguyên nước và môi trường, thành viên Ban chủ nhiệm chương trình KC08/06-10 của Bộ Khoa học công nghệ xung quanh vấn đề nói trên.

PV: Sông Cửu Long có ảnh hưởng to lớn, sống còn đến cuộc sống của người dân ở đồng bằng sông Cửu Long nhưng hiện nay 2 cửa sông chết dần, chỉ còn 7 cửa đang hoạt động. Theo ông, nguyên nhân và xu thế sẽ diễn biến tiếp tục như thế nào về các cửa sông Cửu Long? 

TVT: Sông Cửu Long còn gọi là sông Mê Công dài khoảng 4.800 km bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua các nước Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam, đổ ra Biển Đông. Cửu Long theo từ Hán Việt có nghĩa là 9 cửa sông, tượng trưng cho 9 con Rồng.
Nguồn nước đổ ra sông Cửu Long qua nhánh sông Hậu xưa kia có 3 cửa đổ ra biển là Định An, Bát Sát và Tranh Đề (nay gọi là Trần Đề). Do quá trình biến đổi tự nhiên của các cù lao, diễn biến của dòng chảy bùn cát và sự giao thoa của 2 đường đứt gẫy về địa chất nên chỉ còn lại 2 cửa là Định An và Trần Đề.

Hiện tượng này là do tự nhiên, giống như các cửa sông ở Miền Trung nước ta. Cần phải phân biệt rõ tác động của tự nhiên và con người. Theo xu thế dòng chảy thì đồng bằng sẽ mở rộng dần về phía Tây mỗi năm khoảng 100 ha ra biển ở mũi Cà Mâu. Phân bố dòng chẩy các nhánh sông Cửu Long tăng dần từ Đông sang Tây. Cửa Đại, cửa Tiểu phân bố dòng chẩy gần như bằng 0, rồi tăng dần từ cửa Hàm Luông, Cổ Chiên đến Định An, Trần Đề. Xu thế chung sẽ tăng thêm lưu lượng phía sông Hậu và giảm phía sông Tiền, bởi vậy tăng thêm thoát lũ về biển Tây và bồi lắng ở cửa sông Hậu nhiều hơn. Còn tác động của con người có làm chậm lại hoặc thay đổi phần nào chứ không thể chống lại được quy luật tự nhiên. Xu thế diễn biến tự nhiên về các cửa sông là chuyện của trời đất, chúng ta phải theo dõi, cập nhật thông tin, số liệu, dự báo để có các biện pháp chủ động ứng phó.

PV: Có ý kiến của nhà khoa học cho rằng cửa Ba Lai là một ví dụ về sự tàn lụi của một cửa sông do tác động của con người. Năm 1999, hệ thống cống đập ở cửa sông Ba Lai được xây dựng, hệ quả làm cho quá trình bồi lấp xảy ra nhanh hơn và đến nay thì cửa sông này đã ngừng chảy. Ông có thể giải thích rõ hơn vì sao lại ngăn cửa Ba Lai, làm thế nào giải quyết hậu quả để dòng sông tiếp tục chảy ra biển ? 

TVT: Bản thân sông Ba Lai không có nguồn, sống nhờ thủy triều nếu để lâu ngày sẽ chết lụi như cửa Bát Sát bên sông Hậu. Do yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, năm 2000, Chính phủ phê duyệt dự án thủy lợi Bắc Bến Tre gồm 5 cụm công trình mục tiêu ngăn mặn, dẫn ngọt phục vụ ngọt hóa hơn 100 nghìn ha đất nông nghiệp, cung cấp nước sinh hoạt cho khoảng 800 nghìn người, cải thiện tình hình giao thông. Hệ thống công trình thủy lợi gồm : Cống đập Ba Lai, cống đập, âu thuyền An Hóa và Bến Tre, cống lấy nước Bến Rớ, cống Tân Phú; Đê sông Hàm Luông, sông Mỹ Tho, đê hạ lưu cống đập Ba Lai và các cống dưới đê; Nạo vét, cải tạo phần thượng nguồn sông Ba Lai và hệ thống kênh cấp 1; Nâng cấp hệ thống thủy lợi nội đồng; và các công trình phụ trợ, kết hợp giao thông, trữ nước ngọt. Cho đến nay mới chỉ có cống đập Ba Lai được xây dựng, các hạng mục công trình khác đang trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Do đầu tư không đồng bộ nên vừa qua, mới có hiện tượng bồi lấp cửa sông Ba Lai.
Biện pháp khắc phục là tiếp tục đầu tư hoàn chỉnh các công trình còn lại, đặc biệt là ưu tiên nạo vét thượng nguồn, xây cống Bến Rớ lấy nguồn nước cho công trình Ba Lai. Khi có đủ lưu lượng cần thiết, cống Ba Lai được vận hành theo quy trình với tốc độ thích hợp, kết hợp với nạo vét sẽ giải quyết được việc bồi lấp ở hạ lưu cống (vùng cửa sông Ba Lai). Đây là tác động của con người làm sống lại cửa sông Ba Lai.

PV: Hai thập niên gần đây, đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đặc biệt vùng đầu nguồn thuộc các tỉnh An Giang, Đồng Tháp tốc độ về xói lở bờ sông tăng rất nhanh. Theo ông, nguyên nhân và biện pháp ứng phó, khắc phục trước mắt cũng như lâu dài như thế nào?

TVT: Việc xói bồi lòng sông, cửa biển là chuyện của trời đất, trong đó có cả yếu tố tác động của con người gây ra. ĐBSCL thuộc loại đồng bằng trẻ, địa chất yếu, nên càng dễ bị tác động của tự nhiên và con người. Phía thượng nguồn xây các nhà máy thủy điện, lượng phù sa về hạ lưu ngày càng giảm dần. Do phát triển sản xuất nông nghiệp, người dân phải lên bờ bao, đã biến dòng chảy tràn thành dòng chảy tập trung mạnh hơn vào dòng chính trên sông Hậu, sông Tiền. Phát triển giao thông thủy, khai thác cát không theo quy hoạch, tải trọng công trình quá lớn bên các bờ sông vv…là các nguyên nhân gây nên xói lở bờ sông.

Giải pháp ứng phó với việc xói lở bờ sông về lâu dài phải theo xu thế của thế giới là tôn trọng xu thế tự nhiên của sông rạch, bảo vệ môi trường sinh thái. Nguyên tắc chỉnh trị sông là phải theo thế sông, không thể chỉ theo ý chí của con người. Bài học trả thù của thiên nhiên không phải ai cũng thuộc. Ở những vùng thành phố, thị xã, thị trấn ven sông bắt buộc phải sử dụng các công trình cứng để bảo vệ. Lòng sông Cửu Long rất sâu, có nơi đến 40-50 m, làm công trình mỏ hàn rất khó, khối lượng lớn, rất tốn kém cho nên thường áp dụng bờ kè, việc bảo vệ bờ cần chú ý giải quyết phần ổn định của công trình dưới nước. Cần tăng cường công tác dự báo để người dân có các biện pháp ứng phó chủ động với xói lở bờ. Đối với vùng cửa biển việc xói lở chủ yếu do tự nhiên, cần có các đề tài nghiên cứu thiết thực để làm cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch chỉnh trị cửa sông.

PV: Theo GS Nguyễn Ngọc Trân việc đi lại của tàu biển theo luồng vào sông Hậu qua cửa Định An ngày càng khó, bởi quy luật bồi lắng bùn cát ở cửa sông, và mặt khác bởi cách nạo vét cầm chừng, không tới nơi, tới chốn từ nhiều năm nay. Ông Trân cho biết thêm, từ 20 năm qua, chỉ riêng công tác nạo vét luồng Định An đã tiêu tốn mỗi năm khoảng 1 triệu USD. Tuy nhiên, các nhà chuyên môn cho rằng công tác này là lãng phí và kém hiệu quả vì quá trình bồi lắng diễn ra quá nhanh. Chẳng nhẽ chúng ta lại bó tay, ngồi chờ trời cứu? 

TVT: Giao thông thủy là ưu thế đặc biệt do thiên nhiên ban tặng cho ĐBSCL. Ngoài việc phải giải quyết đủ mớn nước cho các tầu trọng tải lớn vào sông Hậu còn phải đầu tư tăng cường tốc độ bốc xếp của các cảng, hạ giá thành để cạnh tranh với các nơi khác. Đối với cửa Định An, biện pháp nạo vét cửa sông, lợi dụng đỉnh triều để cho tầu vào cảng Cần Thơ chỉ là giải pháp tình thế. Hiện nay, Chính phủ đang có giải pháp thực hiện đào kênh tắt Quan Chánh Bố để tránh cửa Định An. Nhiều nơi trên thế giới đã dùng giải pháp này. Ngay ở miền bắc để tránh sự bồi lấp ở sông Cấm, đã đào kênh tắt từ cảng Hải Phòng đến sông Nam Triệu, ngày nay đang nối sông Nam Triệu sang sông Tranh ở cửa Lạch Huyện. Đối với dự án kênh tắt Quan Chánh Bố ở sông Hậu cần nghiên cứu kỹ lưỡng, bài bản, khống chế cửa sông bằng đê ngăn cát, giảm sóng để đạt hiệu quả tốt nhất.

PV: Chiến lược phát triển và khai thác sử dụng nguồn nước sông Cửu Long có vai trò hết sức quan trọng đối với phát triển kinh tế xã hội và đời sống của nhân dân đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và cả nước nước nói chung. Xin ông cho biết ý kiến về vần đề nêu trên? 

TVT: Đúng thế. Nhìn rộng hơn, lâu nay chúng ta bị động bởi vì vai trò của Bộ Kế hoạch đầu tư xây dựng quy hoạch chiến lược phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long thường vừa chậm, vừa yếu về chất lượng cho nên không làm tròn trách nhiệm của vai trò “nhạc trưởng” cho các quy hoạch phát triển của các ngành, các địa phương. Cần phải thay đổi tư duy về phương pháp luận và cách tiếp cận làm chiến lược phát triển kinh tế xã hội và quy hoạch phát triển trong điều kiện biến đổi khí hậu và tác động của nước biển dâng. Chính phủ nhiệm kỳ mới cần tổ chức lại công tác quản lý lưu vực sông của 2 Bộ Tài nguyên Môi trường và Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn trên nền tảng của mối quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất lấy hiệu quả thực tế làm thước đo.

Chúng ta ở hạ lưu sông Cửu Long, phải hứng chịu mọi tác động ở thượng lưu cả về số lượng và chất lượng nước. Phải đẩy mạnh sự hợp tác quốc tế về việc sử dụng nguồn nước sông Cửu Long một cách vững bền. Xu thế, dân số các nước trong lưu vực sông Cửu Long ngày càng tăng, nguồn nước ngọt ngày càng khan hiếm cho nên trong quy hoạch của các ngành phải có các giải pháp chủ động bằng cả công trình và phi công trình với các lộ trình cụ thể vì cuộc sống của nhân dân.

PV: Xin cám ơn ông.