Tuesday, April 17, 2018

Mekong transboundary cooperation: Making a problem bigger


Last update: 12:56 | 03/04/2018

VietNamNet Bridge would like to introduce an article by Jake Brunner, head of IUCN’s Hanoi-based Indo-Burma Group and Brian Eyler, director of Stimson Center’s Washington DC-based Southeast Asia Program about the need to foster cooperation among Vietnam, Laos and Cambodia in protecting the Mekong River.


A hydropower dam on Srepok River in the dry season. Photo: ND Tu

When asked about his success as a soldier and politician, U.S. President Eisenhower said: “Whenever I run into a problem I can’t solve, I always make it bigger.  I can never solve it by trying to make it smaller, but if I make it big enough, I can begin to see the outlines of a solution.”  
Eisenhower’s approach to problem-solving made him a successful leader.  And it may be relevant to the situation in the Mekong today. 

While they are neighbors, Cambodia, Laos, and Vietnam vary greatly in size, population, natural resource abundance, and level of economic development. 
Their interests do not necessarily converge.  In fact, when it comes to the Mekong, they’ve clearly diverged.  
Having dammed the headwaters of the Sesan and Srepok Rivers, Vietnam is now primarily concerned about water and sediment delivery to the economically vital Mekong Delta.  
Without sufficient sediment to replenish the land, the delta will sink beneath the East Sea--a problem compounded by unsustainable groundwater pumping and rising sea level.

Laos considers the Mekong primarily as a resource to be harnessed for hydropower, mostly for export to Thailand, to generate revenue to drive national development.  
This has resulted in a boom in dam building over the past 15 years including three dams on the Mekong mainstream. 

Cambodia, home to the Tonle Sap, the world’s largest freshwater fishery, is more circumspect about hydropower because of its impact on fish production in a country whose population depends on freshwater fish for 75% of its animal protein.  
But given low levels of electrification and near-total dependence on expensive imports for its electricity supply, there is a pressing need to develop domestic sources of power.  
Hydropower is currently the favored option, despite food security concerns.  
In late 2017, the 400 MW Lower Sesan 2 (LS2), was complete, closing the Srepok and Sesan to the free passage of migratory fish and trapping almost all the upstream sediment.

These divergent interests have brought the three countries into increasingly open disagreement.  
Vietnam sees the survival of the Mekong Delta, responsible for 50% of its rice and 75% of its high-value fruit and aquaculture production, as a matter of national security.  
Laos, which has few foreign exchange generating alternatives, is determined to build more dams.  
In pursuit of energy security, Cambodia is considering building two huge dams, the Stung Treng and Sambor, on the Mekong mainstream.

Whether or not these dams make economic sense is increasingly open to question given the dramatic decline in the price of solar and wind power, which have contributed to Thailand’s decision to suspend the power purchase agreement for the Pak Beng dam in Laos.  
As an indication of how fast technology evolves, under a 10-year old contract, the Cambodian government is obliged to buy power from the Chinese-owned LS2 at ¢7/KWhr, a similar price as solar today but at much higher environmental cost (LS2 is projected to singlehandedly reduce basin-wide fish production by almost 10%).

We seem to have reached a stalemate. Vietnam has adopted a victim mentality, protesting against dams but without presenting any alternatives.  
In Laos, hydropower is almost entirely dictated by foreign, mostly Thai and Chinese, firms and receives very little revenue from dams built under 30-year build-own-operate-transfer contracts.  
Cambodia is keeping its options open.  Instead of bringing these countries together, the discordant development of the Mekong is pushing them apart. 

An exclusive focus on water does indeed limit the scope for cooperation because there are no solutions that currently satisfy all three countries.  
However, it is also the case that Cambodia, Laos, and Vietnam can each offer its neighbors something that they cannot achieve by themselves.  
Laos and Cambodia can address Vietnam’s concerns by prioritizing dams that minimize downstream impacts and by expanding the use of non-hydro renewables.  And Vietnam has much to offer its neighbors.

Vietnam can invest in a national grid in Laos that allows Laos to charge transmission fees, thereby both reducing its dependence on hydropower, and providing an immediate income stream.  
A national grid in Laos would also accelerate the buildout of solar and wind farms and permit regional power trading.  
Together, these would let the three countries meet projected demand at a lower cost and with far fewer dams.  
Similarly, Vietnam can help Cambodia speed up rural electrification and generate foreign exchange by building large-scale solar plants in Cambodia where land is much cheaper.  This would reduce the need for mainstream dams.

Vietnam can strengthen cooperation on other natural resource sectors.  
Cambodia and Laos are struggling to suppress illegal logging in the face of rising demand from Vietnam for timber to feed its wooden furniture business, which exported more than $8 billion in 2017.  
Similarly, the proposed nomination of Him Nam No as Laos’ first natural World Heritage Site is threatened by the illegal wildlife and timber trade in which Vietnam plays a major role as hunter, consumer, and trafficker.  
Simply put, Cambodia and Laos cannot enforce their own forestry and wildlife laws without Vietnam’s active cooperation. 

So per Eisenhower’s dictum of expanding a problem to solve it, expanding regional coordination beyond water to include energy and natural resource sectors could open the door to new opportunities for regional cooperation on the basis of reciprocity and synergies.  
This approach would shift the discussion from zero-sum--my gain results in your loss--to mutual benefits across multiple sectors.

One could imagine Cambodia, Laos, and Vietnam negotiating a “grand bargain” covering water, energy, timber, and wildlife that helps each country achieve key development objectives at much lower environment, social, and political risks.  
As their economies grow and become increasingly inter-dependent, the mutual advantages of such an agreement will grow.  
And as the country with the most advanced economy and is most vulnerable to the impacts of upstream hydropower, Vietnam has the capacity and self-interest to lead the negotiation process.

Jake Brunner/Brian Eyler 

SOURCE:
http://m.english.vietnamnet.vn/fms/environment/198331/mekong-transboundary-cooperation--making-a-problem-bigger.html


Nước lớn, nước ròng miền châu thổ Cửu Long - GS. Thái Công Tụng


I. Dẫn nhập.
Ca dao miền Nam phảng phất nhiều từ ngữ liên quan đến thuỷ triều với nước lên, nước xuống:

- Anh đừng thấy em nghèo anh phụ
Anh đừng thấy em khó anh vong
Anh ơi, nước lớn có khi ròng
Làm người sao khỏi mắc vòng gian nan
- Nước lớn rồi lại nước ròng 
Đố ai bắt được con còng trong hang.
- Nước ròng bỏ bãi xa cừ,
Gặp em hỏi thử sao từ nghĩa nhân
Tại vùng châu thổ Cửu Long, ảnh hưởng của thủy triều có thể lên đến Nam Vang. Chẳng thế mà có ca dao sau đây trong đó chàng trai dặn người yêu :
Nước ròng chảy đến Nam Vang,
Làm thơ để lại, em khoan lấy chồng
Người thiếu nữ không chịu và trả lời:
Tay bưng chậu cúc trăm bông,
Chờ anh chẳng đặng, em trồng xuống đây
Tại Canada, vịnh Fundy ở tiểu bang New Brunswick có thuỷ triều với mức dao động lên đến 16 mét!

II. Thuỷ triều là gì và tại sao có thuỷ triều?  
Thủy là nước, còn triều là cường độ nước dâng lên và rút xuống.
Sở dĩ có thuỷ triều là vì có lực hấp dẫn từ Mặt Trăng trên đại dương. Mặt Trăng ở giữa Mặt Trời và Trái Đất, nằm cách xa Trái Đất hàng trăm ngàn km. Trong khi Trái Đất tự quay quanh nó và quay xung quanh Mặt Trời, hoàn tất một vòng trong 365 ngày thì Mặt Trăng cũng tự quay xung quanh nó và đồng thời cũng quay xung quanh Trái Đất ta ở, hoàn thành chu kỳ mỗi 28 ngày. 

Mặt Trăng tự nó không có ánh sáng mà sở dĩ có là vì có ánh Mặt Trời chiếu vào. Vì Mặt Trăng quay quanh Trái Đất nên có lúc bị Trái Đất che đi do đó:
- có đêm ta không thấy Mặt Trăng (đêm 30 tối đen như mực),
 Anh đến thăm em đêm ba mươi
Không gì nào vui bằng đêm ba mươi
Anh nói với người phu quét đường
Xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em (thơ Nguyễn Đình Toàn)
- có đêm ta thấy Mặt Trăng rất rõ (đêm Rằm trăng tròn và sáng). Trăng thượng tuần mồng 7 âm lịch là trăng giữa đêm 30 và trăng rằm; trăng hạ tuần ngày 23 âm lịch là trăng giữa đêm Rằm và đêm 30  
1.Cứ mỗi tháng hai lần vào ngày ba mươi âm lịch (trăng tối om) và ngày rằm âm lịch (trăng sáng), khi cả ba thiên thể Mặt Trăng, Mặt Trời và Trái Đất cùng thẳng hàng thì tác động kéo nước trên Trái Đất mạnh hơn vì hỗ tương lên nhau và ta có triều cường (spring tide, marée de vives- eaux). Lúc triều cường là lúc có sai biệt lớn giữa nước lên và nước xuống.
Trong văn học Viet Nam, nhiều đoạn thơ nói đến nước lớn, nước ròng:
Nước lên như trong câu Kiều:
Triều dâng hôm sớm, mây lồng trước sau
Nước xuống như trong câu:
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu
Ngọn nước mới sa có nghĩa là nước triều xuống, hay là nước ròng.
Thuỷ triều có thể rất mạnh:
Triều đâu nổi sóng đùng đùng
Hỏi ra mới biết là sông Tiền Đường (Kiều)
Triều cường còn gọi là nước lớn như trong ca dao:
Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi
Buôn bán không lời, chèo chống mỏi mê
2. Ngược lại, vào thượng tuần và hạ tuần, khi cả ba thiên thể Mặt Trăng, Mặt Trời và Trái Đất thẳng góc với nhau thì ta có triều kém (neap tide, marée de mortes- eaux) vì tác động hỗ tư ơng bị yếu đi và ít có khác biệt giữa triều cao và triều thấp. Đó là lúc trăng thượng tuần (mồng 7 â.l.) và trăng hạ tuần (23 â.l.)











Tại miền châu thổ Cửu Long, mùa cạn hay mùa lũ, mực nước các sông hằng ngày đều có dao động theo sự chi phối của thủy triều. Những biến đổi thủy triều trải qua các giai đoạn sau:
- Mực nước biển dâng lên trong vài giờ, ngập vùng gian triều (intertidal zone), gọi là ngập triều (flood tide).
- nước dâng lên đến điểm cao nhất của nó, gọi là triều cao (high tide), còn gọi là nước lớn.
- mực nước biển hạ thấp trong vài giờ làm lộ ra vùng gian triều, gọi là triều rút (ebb tide).
- nước hạ thấp đến điểm thấp nhất của nó, gọi là triều thấp (low tide), còn gọi là nước ròng;    
nhà nhạc sĩ cũng nói đến nước ròng trong bản nhạc Tình nhớ:
Tình ngỡ đã quên đi như lòng cố lạnh lùng
Người ngỡ đã xa xăm bỗng về quá thênh thang
Ôi áo xưa lồng lộng đã xô dạt trời chiều
Như từng con nước ròng xoá một ngày đìu hiu (Tình nhớ Trịnh Công Sơn )
Nước ròng, ngọn nước mới sa là nói khi thủy triều xuống, nhưng thuỷ triều cũng dâng lên như trong đoạn thơ sau:
Bốn bề bát ngát mênh mông
Triều dâng hôm sớm, mây lồng trước sau (Kiều)
Vùng nước dao động do thuỷ triều lên xuống giữa mức nước lớn và nước ròng. Những bãi biển xoải cát, cửa sông hoặc những mỏm đá thấp thường được gom vào khu vực này.
Nhìn nước lớn, nước ròng, nhìn cuộc đời sớm còn, tối mất, người ta ca rằng:
Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi
Buôn bán không lời, chèo chống mỏi mê
Thời điểm mà dòng triều dừng chuyển động được gọi là nước đứng (slack water). Thủy triều sau đó đổi hướng thì ta có sự biến đổi ngược lại. Nước đứng thường xuất hiện gần lúc mực nước triều cao hoặc triều thấp:.
Nước không chưn sao kêu bằng nước đứng
Cá không giò sao gọi con cá leo?
Một chu kỳ biến động của mực nước, từ lúc nước biển rút xuống mức thấp nhất, đến lúc nước biển lên cao đến mức cao nhất, kéo dài 15 ngày, có tên là một con nước ; như vậy mỗi tháng có 2 con nước. Nước lên- nước xuống chi phối đời sống dân ven biển.
- Trông về con nước vơi đầy
Nỗi sầu xa cách biết ngày nào vơi

- Lênh đênh duyên phận bọt bèo
Đành cho con nước thuỷ triều đầy vơi

- Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà (Huy Cận)
 - Trông vời con nước mênh mông
Đem mình gieo xuống giữa dòng trường giang ( Truyện Ki
ều)

- Trăng lên con nước rong đầy
Anh đừng đến nữa, má rầy khổ em

III. Thuỷ triều liên hệ đến nông nghiệp, đến giao thông.
Mực nước thủy triều có ảnh hưởng lớn đến đồng bằng, từ chuyên chở trên sông rạch đến nông nghiệp. Nước triều cao sẽ dễ dàng lấn sâu vào nội địa và làm nhiễm mặn nước sông và đất đai còn nước mặn ảnh hưởng nhiều vùng duyên hải như Bến Tre, Long An, Trà Vinh, Soc Trăng, Cà Mau 

Triều cường và nông nghiệp.. Những ngày lũ lớn, nếu gặp kỳ triều cường, nước dâng to sẽ gây ngập lụt v.v...Triều cường và sóng lớn làm phá vỡ bờ cây xanh chắn sóng dọc theo bờ biển, lấn sâu vào đất liền, làm các vùng thấp duyên hải bị ngập, làm hư hại các đê bao ngăn mặn, gây ngập úng các đầm nuôi tôm, các vườn cây ăn trái, các nhà cửa ven kinh rạch. Khi triều cường vào cửa sông thì độ mặn lan truyền, khuyếch tán vào trong sâu nội địa, nhất là lúc cao điểm đỉnh triều cường vào con nước rằm và ba mươi tháng Giêng âm lịch, thì sẽ gây thiệt hại cho nhiều diện tích lúa đông xuân đang trong giai đoạn làm đòng, trổ bông. Khi nưóc mặn xâm nhập vào cửa sông thì đất bị nhiễm mặn và năng suất lúa bị giảm và không trồng lúa được vào mùa khô.

 Song với vùng xa cửa sông, mặn không tới được thì dao động thủy triều trong ngày có tác dụng không nhỏ cho công việc tưới tiêu, thau chua, rửa mặn. Khi triều dâng, mực nước ngọt trong sông được đẩy lên cao, người ta có thể lợi dụng để lấy nước vào ruộng. Ngược lại, khi triều rút, mực nước xuống thấp, có thể xả nước, thau chua từ ruộng ra sông. Nông dân Việt thường dùng những thân cây dừa làm ‘bọng’, trong đó có gắn cái ‘hom’ như một hình thức van (valve), với mục đích khi nước sông dâng cao vói thuỷ triều lên thì nước ngoài sông tự động vào ruộng qua cửa bọng và khi thuỷ triều hạ xuống thì nước trong ruộng tự động rút ra qua cửa bọng và cái hom tự động khép kín.
 Triều cường và giao thông vận tải.  Triều cường làm ngập đường sá nên giao thông khó khăn trở ngại, nhất là vào giờ cao điểm. Những ngày lũ lớn, nếu gặp kỳ triều cường, nước dâng to sẽ gây ngập lụt.
 


IV. Nhật triều và bán nhật triều.
 Thuỷ triều đã tạo nên hiện tượng nước lênnước xuống, có chỗ thì một lần triều lên, một lần triều xuống trong ngày, nhưng cũng có chỗ triều lên và triều xuống 2 lần trong ngày

 Miền Châu thổ sông Cửu Long có hai chế độ triều khác nhau vì
-  từ Vũng Tàu đến mũi Cà Mau, dài 400 km chịu ảnh hưởng rõ rệt theo chế độ bán nhật triều không đều, biên độ triều khá lớn trên 2 m, đạt tối đa 3,5 m. Mỗi ngày có 2 lần triều lên và 2 lần triều xuống nhưng biên độ triều trong 2 lần khác nhau. Trong mỗi chu kỳ 1/2 tháng, thấy rõ sự chênh lệnh đáng kể về biên độ kỳ nước cường. Nước lớn thường xảy ra vào những ngày mồng 2 đến mồng 3 âm lịch, hoặc ngày 18 - 19 âm lịch. Nước kém xảy ra vào thời gian giữa 2 kỳ nước cường (ngày mồng 7 - 8 âm lịch hoặc 20 - 21 âm lịch). Trong những ngày triều cưng nếu xuất hiện gió s làm nồng độ mn ng cao, kng gian xâm nhập mặn sâu hơn vào các dòng chính và kênh rạch nội đồng
Trong tháng có 2 lần nước lớn (ngày rằm và mồng một âm lịch) và 2 lần nước kém (triều kém, ở giữa 2 ngày trên). Gặp lúc vưa mưa lớn, trùng vào ngày thuỷ triều lớn thi nước lũ không thoát được ra biển.

- từ mũi Cà Mau đến Hà Tiên dài 250 km, chịu chi phối bởi chế độ nhật triều không đều của vùng biển vịnh Thái Lan, đoạn gần mũi Cà mau bị ảnh hưởng của thủy triều biển Đông. Triều phía Tây tiến vào đất liền qua các sông thiên nhiên như sông Bảy Háp, sông Ông Đốc, sông Cái Lớn, sông Cái Bé,... và một số kênh đào. Biên độ trung bình triều phía Tây nhỏ hơn 1 m, tối đa không quá 1,1 - 1,2 m., trung bình khoảng 0,7 - 0,8 m, đồng thời cũng ít chênh lệch giữa các vùng về biên độ, song tính chất thủy triều lại có một số điểm khác nhau về cơ bản ở một số vùng. Ví dụ như khu vực Rạch Giá là dạng triều hỗn hợp thiên về bán nhật triều với số ngày trong tháng có 2 lần triều lên và 2 lần triều xuống là chủ yếu (tức chịu ảnh hưởng chế độ nhật triều không đều, thiên về bán nhật triều), từ Rạch Giá đi về phía Hà Tiên thì triều hỗn hợp lại thiên về nhật triều, với số ngày trong tháng có 1 lần dao động triều chiếm ưu thế.

V. Thà cho ngọn nước thuỷ triều chảy xuôi 

Nước triều lên, nước triều xuống: con người cũng vậy, có khi vui, có khi buồn. Có những lúc tinh thần phấn chấn, lạc quan yêu đời nhưng cũng có lúc chán nản, thất vọng.
Nàng Kiều trong cuộc đời đã gặp nhiều đọa đày khổ ải nên khi gặp lại người yêu là Kim Trọng muốn nối kết lại cuộc tình đã thốt ra Thà cho ngọn nước thuỷ triều chảy xuôi.. Tương tự như nàng Kiều, chúng ta thường có khi bị nhiều phiền não trong cuộc sống là vì ta thường bị tham, sân, si chi phối, yêu cái này, ghét bỏ cái kia, kéo theo say đắm đưa đến phiền não; do đó cần có thái độ ung dung tự tại. Thực vậy, con người trong cuộc thế, thường vướng mắc, thường “chấp ngã” thì chỉ còn có nước “phá chấp”, nghĩa là phải buông ra. Hãy để cho ngọn nước thuỷ triều kéo trôi đi mọi buồn giận, mọi chê bai thì ta sẽ được an nhiên.

Thái Công Tụng
2 tháng 3, 2018

Nguồn: Tác giả gởi.